Thư mục

Đọc báo online

Tìm kiếm - Tra cứu

page rank

Các ý kiến mới nhất

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Phạm Phúc Tuy)

    Chức năng chính 1

    Chào mừng quý vị đến với Website của Phạm Phúc Tuy - Trường Đại học Thủ Dầu Một - Bình Dương).

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI HOA SƯ PHẠM.

    Ngôn ngữ trong giao tiếp

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Phúc Tuy (trang riêng)
    Ngày gửi: 16h:09' 23-12-2010
    Dung lượng: 109.5 KB
    Số lượt tải: 105
    Số lượt thích: 0 người
    Sự giao tiếp bằng ngôn ngữ
    Phạm Phúc Tuy
    ( Sưu tầm )
    Trong giao tiếp, ngôn ngữ là công cụ quan trọng số một. Hiểu biết và khéo léo trong việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp là một trong yếu tố góp phần gây thiện cảm đối với người đối diện, tạo sự thành công trong giao tiếp. Chúng ta có thể tham khảo những ý kiến dưới đây của Giáo sư Nguyễn Văn Lê về sự giao tiếp bằng ngôn ngữ
    1. Lời nói phải đúng vai xã hội, đúng cương vị xã hội của con người.

    Khi giao tiếp với ai, chúng ta hãy định hướng cho cách giao tiếp ứng xử của mình sao cho phù hợp, không tự phụ kiêu căng mà cũng không tự ti, khúm núm.
    2. Lời nói phải phù hợp với trình độ người nghe.

    Trình độ quá chênh lệch về ngôn ngữ giữa người nói và người nghe có thể gây khó hiểu hoặc hiểu lầm.
    3. Bảo đảm nguyên tắc truyền đạt một thông điệp

    Thông điệp phải rõ ràng, rành mạch, không có những từ, những câu thừa, nhưng mặt khác lại cho phép ở một số chỗ nào đó cần có sự lặp lại ít nhiều với mục đích nhấn mạnh, nêu bật những ý cần thiết.
    4. Cách nói cơ giới và cách nói tình thái

    + Nói cơ giới là nói thẳng, nói vỗ mặt. Ví dụ: tôi không có, tôi không cho,tôi bỏ, tôi cắt, anh nói sai.
    + Nói tình thái là nói tế nhị, có tình cảm, làm cho người nghe có thể tiếp thu thỏai mái nội dung câu nói. Ví dụ:Tôi e rằng đánh giá như thế là chưa thỏa đáng.Hai vấn đề đó tưởng không nên nhập làm một.Nội dung tốt, chỉ tiếc là thái độ hơi gay gắt…
    Khoanh tay lại, hứa với cô đi nào!Có muốn được cô khen không?Có muốn được lên lớp không?...
    Trái với nói tình thái là nói nặng, nói hù dọa:
    Chú ý vào sách! Cô gọi, không đọc tiếp được là cô cho điểm 1 đấy nhé!
    5. Cách nói chỉ rõ và nói gợi, nói ví

    Nói chỉ rõ sự việc là nói trực diện, như 2 với 2 là 4.Nói gợi là nói đến một dấu hiệu gì đó có liên quan để người nghe tự hiểu. Nói ví là một cách nói gợi,dùng sự so sánh
    Ví dụ để phê bình một bài diễn văn nhậm chức sáo rỗng: “ Bài này cho đăng vào một tạp chí văn hóa nghệ thuật thì tuyệt!
    6. Cách nói triết lý


    Cách nói này được dùng để giảm thiểu nỗi bất hạnh của người đối diện. Ví dụ:Của đi thay người!
    7. Nói hiển ngôn và nói hàm ngôn

    Hiển ngôn là lời nói có nghĩa biểu hiện trực tiếp ra ngòai, còn hàm ngôn là lời nói có nghĩa ẩn bên trong, đòi hỏi người nghe phải cố gắng để hiểu, để giải mã câu nói.
    Ví dụ:
    + Ở trong phòng họp, A nói:Nóng quá!, B nói:Ừ, nóng như lửa! Câu nói của A trong trường hợp này này là hiển ngôn, không có hàm ngôn.
    + Ở nhà riêng của B, A nói:Nóng quá! B bảo:Có chai bia đây! Câu nói của A vừa là hiển ngôn ( trời nóng ) vừa là hàm ngôn ( cho uống gì đi )
    Theo Ducrot, hiển ngôn là cái người ta nói ra, còn hàm ngôn là cái người ta muốn mà không nói ra.
    8. Nói mỉa mai, châm chọc

    Theo Paul Guth và Michelle Maurois, tự ái rất nên giữ vì đó là tình cảm của con người có phẩm cách. Vì vậy chúng ta nên tôn trọng cái tự ái của mỗi người và tránh không làm tổn thương đến nó bằng những cách nói gợi ý, tế nhị hơn. Đừng nói đùa châm chọc, nhất là đối với những người quá nhạy cảm.
    9. Nói gây bệnh cho người khác

    Làm gì mà bà xanh xao, tiều tụy đến thế?
    Một câu nói đó có thể làm tiêu tan công hiệu của mười hộp thuốc bổ, người nghe có thể chưa bị bệnh nhưng nghe câu nói đó có thể bị ám thị mà bệnh thật.

    Những điều tối kỵ trong
    ngôn ngữ giao tiếp


    + Nói năng nửa chừng rồi dừng lại hoặc cướp lời người đang nói, làm nhiễu thứ tự hoặc luồng suy nghĩ của người đó.
    + Không nói rõ và giải thích đầy đủ làm người nghe cảm thấy đột ngột,khó hiểu đề tài nói chuyện của bạn, không nêu ra những trọng tâm, những khái quát, làm người tiếp chuyện khó theo dõi mạch chuyện.
    Những điều tối kỵ trong
    ngôn ngữ giao tiếp


    + Nói sai đề tài,không quan tâm tới điều mình nói.
    + Nói thao thao bất tuyệt,không ngừng nêu ra những câu hỏi làm người tiếp chuyện có cảm giác bạn yêu cầu hơi nhiều.
    + Không trả lời thẳng vào câu hỏi mà người khác nêu ra, quanh co dài dòng gây nên cảm giáccho người nghe là bạn là người không trung thực.
    Những điều tối kỵ trong
    ngôn ngữ giao tiếp
    + Tự cho rằng mọi điều mình đều biết cả.
    + Làm ra vẻ hiểu sâu biết rộng
    + Phát triển câu chuyện không tập trung vào chủ đề chính làm người tiếp chuyện cảm thấy nhàm chán.
    + Ngắt bỏ hứng thú nói chuyện của người khác để ép người đó phải chuyển sang nói về đề tài mà bạn thích.
    + Thì thầm với một vài người trong đám đông.
    Những điều tối kỵ trong
    ngôn ngữ giao tiếp
    + Dùng ngôn ngữ quá bóng bẩy
    + Chêm những câu tiếng nước ngòai trong câu nói của mình một cách tùy tiện
    + Đột ngột cao giọng
    + Dùng những lời quá thân mật so với mức độ quan hệ
    + Dùng những từ đệm không cần thiết
    + Nói giọng khích bác, chạm vào lòng tự ái của người khác.


    XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN CÁC BẠN
    ĐÃ THEO DÕI.
     
    Gửi ý kiến